Home/Truyện cổ tích Việt Nam/Gốc tích ruộng thác đao

Gốc tích ruộng thác đao

08-04-2016 - 828 views

Vào đời Lý, vùng Thanh Hóa bấy giờ có một người là Lê Phụng Hiểu, sống gần hòn núi nhỏ thường gọi núi Bơng (hay là Băng Sơn), núi này nhô lên ngay giữa một cánh đồng. Bởi thế mà mọi người cũng quen gọi Lê Phụng Hiểu với cái tên ông Bơng.

Lê Phụng Hiểu khá to lớn và khỏe mạnh. Lúc trước mẹ chàng có đi lên núi và bắt gặp một dấu chân khổng lồ không giống thường. Thấy lạ nên bà mới ướm thử chân mình vào, không hiểu sao lại cảm động một cách bất ngờ, rồi sau đó có thai rồi sinh được Hiểu.

Truyện cổ tích việt nam: gốc tích ruộng thác đao

Truyện cổ tích Việt Nam: Gốc tích ruộng thác đao

Khi còn nhỏ Hiểu cũng không thích học chữ, Hiểu chỉ thích đi tập ném đao, cử tạ, đánh gậy hay múa quyền mà thôi. Chàng thường xuyên lấy mấy hòn đá có hình dáng tròn tròn ở trên núi để làm quả tạ mà luyện tập. Những hòn đá đó đều rất nặng, phải cỡ tám người mới có thể khiêng nổi. Khi Hiểu được hai mươi tuổi thì tất cả những tay đô vật ở trong làng đều không dám đến tỷ thí cùng chàng nữa. Hiểu rất khỏe, chỉ với một nắm đấm thì chàng cũng có thể vật ngã được con bò mộng lớn.

Thời bấy, có ông Tuấn mà người ta thường gọi ông Vồm sống ở vùng Đông Sơn, sức khỏe của ông cũng là vô địch, hơn nữa lại rất giỏi trong việc vật. Khi nghe danh tiếng của Hiểu – một tay đô vật trẻ mới nổi thì Vồm liền lập tức đường xa tìm tới Băng Sơn để đòi được thử sức. Khi Vồm đến cũng vừa lúc Hiểu đi kiếm củi không có nhà. Mẹ của Hiểu mới bảo Vồm rằng:

loading...

– Ông đây có gì muốn hỏi cháu nó thì ở đây chờ một chút. Chắc nó cũng chuẩn bị mang củi trở về rồi!

Một lúc sau, mẹ Hiểu chỉ cho Vồm thấy Hiểu từ đằng xa đang trở lại, nhưng chỉ mới nhìn thôi đã khiến Vồm giật mình đầy kinh sợ rồi. Phía xa, giữa con đường của núi rừng, Hiểu xuất hiện chính là một gã người khổng lồ đang quảy theo hai bó củi lớn cỡ đụn ra một, mà chàng vẫn cứ chạy cun cút như bay vậy. Trông thấy thế thì Vồm cũng không dám đợi tiếp nữa, vì thế đành kiếm kế mà cáo từ chuồn mất.

Khi Hiểu vừa đặt chân vào tới ngõ thì đã nghe thấy mẹ mình bảo rằng có một người khách đã chờ mình từ rất lâu rồi, nhưng cũng vừa mới rời đi lúc nãy. Hiểu nghe mẹ nói vậy thì vội vội vàng vàng quẳng luôn cả gánh củi trên vai xuống sân, sau đó đuổi theo hướng Vồm đi. Không mất nhiều thời gian thì Hiểu đã đuổi kịp Vồm. Cả hai làm quen nhau bắt đầu với cuộc tỷ thí vô cùng dữ dội ở trên chính hòn núi Băng Sơn. Cuộc tỷ thí của họ khiến cho đất đá chung quanh bay loạn xạ, cây cối thì xiêu vẹo bởi những cú quật rất kinh người. Và trong cuộc vật thứ mười tám của cả hai, vì không chịu nổi cú móc hiểm của Hiểu nên Vồm liền bị chẹt ở giữa của hai tảng đá rất lớn.

Ở gần miền thời đấy gồm hai thôn là Đàm Xá cùng thôn Cổ Bi, hai bên đã tranh nhau bãi đất trống từ rất lâu. Số dân sống ở thôn Đàm Xá phải đông gấp đôi số dân sống ở thôn Cổ Bi, hơn nữa bọn họ lại có được Tá Lực là một hảo hán từ Kẻ Chợ tới tự khoe khoang rằng bản thân rất giỏi võ, chính vì thế mà dân thôn Đàm Xá mới ra quyết định sẽ dùng chiêu lấy thịt để đè người hòng chiếm mảnh đất trống kia về lâu về dài.

Dù không ai nói gì thì trong lòng mọi người cũng tự biết thôn Cổ Bi chắc chắn sẽ rước về thất bại. Tuy nhiên, dù khả năng thất bại cao như thế nhưng dân thôn Cổ Bi vẫn kiên quyết không chịu buông tha mảnh đất kia. Vậy là hai bên phát động tấn công, họ đánh nhau cũng trong được một tháng. Tất cả những trai tráng của thôn Đàm Xá chịu sự điều khiển từ Tá Lực nên mỗi ngày đều tay cầm gậy, tay cầm thước hùng hổ tiến sang phần đất của thôn Cổ Bi để chống đỡ cho một nhóm khác làm nhiệm vụ trồng tre rồi đắp bờ để ngăn hẳn thành bãi bồi đánh giấu chủ quyền phần đất của mình. Hơn nữa, bên thôn Cổ Bi cứ hễ có ai đó thò ra thì chắc chắn sẽ bị chúng đuổi đánh. Không tính những người sứt đầu hay mẻ tai thì số người trọng thương cũng nằm la liệt hết cái đình làng. Còn Tá Lực thì vẫn thi thoảng đứng ở trên phần gò đất cao mà nói vọng sang những lời khiêu khích.

Lúc ấy Hiểu có việc nên phải đi ngang qua khu đó. Khi được nghe dân thôn Cổ Bi kể lại chi tiết mọi việc thì vô cùng tức giận. Chàng lập tức vung tay áo rồi bảo mấy phu lão thôn Cổ Bi rằng:

– Nếu nó cong thì ta khắc thẳng, không thể nào mà để chúng cứ mãi hiếp người như thế được.

Sau đó liền chỉ vào ngực của mình mà tuyên bố:

– Một mình tôi cũng có thể đánh cho bọn nhãi ấy tan tác.

Mấy phu lão nghe Hiểu nói vậy thì mừng rỡ vô cùng, lập tức sai người dọn cỗ để mời Hiểu ăn cơm. Chỉ một mình mà chàng chắn hết được một dãy gồm hai mươi mâm cỗ.

Sau khi đã cơm thật no, Hiểu đứng dậy vỗ bụng, sau đó tay không mà xông thẳng về phía trận địa của bên thôn Cổ Bi, trên người chàng cũng chỉ mặc duy nhất chiếc khố cũ.

Đầu tiên thì Hiểu đi về phía mấy lùm cây, chàng chọn những cây gỗ cũng vừa tầm để nhổ, rồi chất chúng thành từng đống. Sau đó chàng cầm cả túm gồm cả cành cây và rễ cây, chàng cứ nhằm vào đám đông của địch thủ mà vụt túi bụi, bọn chúng sấn vào thì chàng đập lại càng hăng. Hết bụi cây này gãy chàng lại thay bụi cây khác để đánh. Mọi việc cứ diễn ra liên tiếp, số người bị Hiểu quật ngã đã không thể đếm nổi nữa.

Những ngón nghề của Tá Lực cùng ngọn côn bên người y làm sao có thể chống đỡ được những đòn như trời giáng kia của Hiểu. Một hiệp còn chưa xong thì Tá Lực cũng đã quay đơ dưới đất. Nhìn thấy một màn này, mấy tay võ còn lại cùng đám người thôn Đàm Xá cũng sợ hãi mà bỏ chạy không còn một mống. Hiểu nhìn nhìn kẻ đang nằm ngay đơ dưới đất, chàng đưa chân dẫm lên ngực của Tá Lực và yêu cầu hắn chấp thuận điều kiện là trả lại hết phần ruộng đất mà bọn họ đã cướp của thôn Cổ Bi, sau đó mới tha cho hắn trở về.

Sau trận chiến ngày ấy thì danh tiếng của Hiểu càng được truyền đi xa, vang vọng khắp nơi. Cũng vào dịp đó vua Lý đang kén những người khỏe mạnh để mà sung vào đội quân túc vệ của mình. Chỉ với cuộc đấu đầu tiên mà Hiểu đã có thể được vua cho truyền vào yết kiến, còn ban cho Hiểu quyền chỉ huy cả đội quân gồm những tay rất lực sĩ. Và không lâu sau đó thì Hiểu lại được vua tiếp tục cất nhắc lên trở thành tướng, và người ta thường gọi chàng là Võ vệ tướng quân.

Không đầy mấy năm sau thì nhà vua liền băng hà. Thần tử trong triều chiểu theo di chiếu của vua mà tôn hoàng thái tử kế vị ngai vàng trước khi phát tang. Tuy nhiên trong khi lễ đăng quang vị vua mới chưa kịp cử hành, ở bên ngoài thành cấm vọng vào những tiếng ồn ào của người và ngựa. Rồi quân canh bẩm báo rằng ba vị hoàng tử gồm: Võ Đức Vương, cùng Đông Chính Vương và cả Dực Thánh Vương đều đem theo đội quân của ba phủ tới để vây thành yêu cầu chia ngôi báu cùng hoàng thái tử.

Lúc ấy ở trong thành tình hình vô cùng kinh động. Đội vệ binh đã được phái đi đến các nơi trọng yếu trong thành để phòng thủ. Còn Hoàng thái tử chỉ vì vướng phải tình máu mủ nên vẫn chưa chịu giải quyết. Khi Hiểu nghe được mọi chuyện thì không thể nào nhẫn nhịn được nữa, chàng lập tức đi tìm chỗ hoàng thái tử để đòi được đối mặt sống mái cùng đám quân phản ngịch kia. Hiểu vỗ gươm bên eo mà tâu rằng:

– Mọi chuyện đã đến nước này, khẩn xin bệ hạ để cho cây gươm của thần ra và nói chuyện với bọn chúng.

Sau đó Hiểu nhảy lên lưng ngựa, phi tới cửa Quảng Phúc, chàng tuốt gươm ra khỏi vỏ, chỉ thẳng mũi gươm về phía mặt của Võ Đức Vương mà quát lớn:

– Cái bọn bất mục bất hiếu kia, chúng bay lại dám cả gan cướp ngôi soán vị ư? Tao sẽ cho bọn bay nếm thử lưỡi gươm trên tay tao.

Khí thế kinh người của Hiểu khiến cho Võ Đức Vương có phần kinh sợ, hắn không dám chính diện giao tranh với chàng, vì vậy liền giật cương ngựa quay người bỏ chạy, tiếc là chỉ với nhát gươm đầu tiên thì Hiểu đã khiến cho con ngựa hắn cưỡi khụy ngã, và với nhát gươm thứ hai, Võ Đức Vương bị xẻ làm đôi. Và rồi sau đó lưỡi gươm chàng cầm cứ thế lóe sáng mà múa tít ở giữa đám quân kia làm chúng chạy toán loạn hết cả. Và đội vệ quân do Hiểu dẫn đầu cũng cứ mặc sức mà chém giết đám phản loạn kia. Còn hai vị hoàng tử còn lại không biết chạy trốn đến nơi nào.

Trận đánh này khiến mọi việc được giải quyết, vua mới cũng vô cùng cảm kích trước công lao của Hiểu. Sau đó vua lại ban tiếp cho Hiểu tước hầu là danh phong Đô thống đại tướng quân, cũng chính là người cai quản gần hết số quân sĩ ở trong nước bấy giờ.

Lần thắng giặc trở về, nhà vua vốn định tiếp tục phong thưởng hơn nữa cho Hiểu, nhưng chàng lại tâu rằng:

– Tâu bệ hạ, thần không cần lĩnh tước. Trước đây nhà của thần ngay phía dưới chân núi Bơng. Giờ thần xin bệ hạ ban cho thần ruộng đất, thần chỉ xin số lượng ruộng đất mà khi thần đứng trên núi ném đao xuống, đao cắm ở đâu thì xin bệ hạ ban cho thần số đất ấy để thần tự lập nghiệp.

Vua nghe vậy cũng ngạc nhiên nhưng liền đáp lại:

– Cứ tưởng là khanh muốn điều gì, chứ nếu khanh muốn ruộng đất thì cứ nói chứ sao phải đi ném đao cho cho mệt người!

Nhưng là Hiểu vẫn chỉ một mực muốn xin được ném đao. Vua cũng không nói nhiều, lập tức bằng lòng với yêu cầu đó. Sáng hôm sau chính là lễ ném đao của Hiểu, mọi người đều đổ xô tới để xem, đông hơn cả hội. Hòn núi Băng Sơn từ xa xưa đến nay cũng chưa từng có ngày nào mà có chiêng có trống, có cờ có quạt, lại còn đủ quan dân khắp nơi đi lại nhộn nhịp như thế này.

Khi tiếng trống đã dứt, Hiểu một thân cởi trần và đóng khố, tay cầm theo đao, chàng xoay liền mấy vòng sau đó lấy đà phóng đao đi. Chiếc đao của chàng cứ bay bổng mãi ở phía trên cao, hệt như con chim được bay thả tự do. Mọi người chứng kiến đều vô cùng ngạc nhiên, chăm chú nhìn theo, nó cứ bay, bay mãi cho đến khi chỉ nhìn thấy một chấm nhỏ ở lưng trời, nó bay xa đến hơn mười dặm mới chịu rơi xuống đất. Mũi đao ấy cắm xuống phần đất của thôn Đa Mỹ. Những quan đến đây hầu hết đều bị điều đi đo đạc và đóng mốc, khi trở về thì cho biết tính từ chân núi tới chỗ đao của Hiểu cắm quây vuông lại được khoảng mười ngàn mẫu đất. Vua Lý cũng y như ước định ban đầu mà ban phần đất ấy cho Hiểu để làm hương hỏa và truyền thừa cho con cháu sau này, còn tha cho không phải đóng thuế.

Kể từ đó về sau, người ta gọi chung những mảnh ruộng ban thưởng cho công thần đều là ruộng thác đao.

loading...