Home/Truyện cổ tích Việt Nam/Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non

Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non

09-04-2016 - 1083 views

Ngày xửa ngày xưa, bên Trung Quốc có một người rất giỏi địa lý tên là Cao Biền. Ông thông thạo hết mấy phép tróc quỷ hô thần, bởi vậy nên tiếng tăm của ông vang dội khắp mọi nơi. Khi ấy hoàng đế nghe được tiếng đồn, lập tức lệnh truyền Biền vào trong cung để ủy thác ông việc tìm kiếm ngôi đất để dùng xây dựng một lăng tẩm.

Tất nhiên là Cao Biền phải vâng lệnh mà làm việc, phải năm năm nghiên cứu và tìm tòi Biền mới kiếm cho được một kiểu đất vô cùng quý, Biền cho hay nó có thể giúp giữ được ngôi của nhà Đường, và giúp cho ngôi vị đó luôn được vững mạnh như bàn thạch vậy.

lay-bay-nhu-cao-bien-day-non

Truyện cổ tích Việt Nam: Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non

Công việc cuối cùng cũng được hoàn thành, và hoàng đế vô cùng khen ngợi công lao của Biền, vì thế mà ban cho Biền vô vàn vàng bạc, châu báu, còn phong cho Biền chức tước rất lớn. Nhưng mọi thứ Biền đều từ chối, bởi vì Biền biết được trong kho tàng hoàng đế có cất giữ một ngòi bút thần, nó vô cùng màu nhiệm, ngay cả hoàng đế cùng triều thần đều không một ai hay biết. Bởi thế nên Biền mới không cần vàng, cũng không nhận chức tước mà chỉ thưa:

– Muôn tâu bệ hạ, thần không cần những vàng bạc châu báu kia của bệ hạ. Thần duy chỉ muốn xin lấy một kho đồ dùng trong số hàng trăm hàng ngàn kho của người bằng cách thần sẽ tự tay lấy một chùm chìa khóa trong số chìa khóa mà quan tổng quản đang giữ, chiếc chìa khóa ấy mở được kho đồ nào thì thần xin được lấy kho duy nhất ấy.

loading...

Nghe Biền nói vậy thì hoàng đế cũng ngạc nhiên lắm, nhưng bởi vì trọng tài của Biền, mà ý kiến của Biền cũng rất thú vị nên hoàng đế cũng bằng lòng với yêu cầu này, để cho Biền thử chút vận may rủi của mình xem thế nào.

Như dự đoán, kho mà Biền rút được chìa khóa chính là chiếc kho đựng bút lông của hoàng đế. Từ ngày được quyền sử dụng toàn bộ số bút lông ở trong kho, Biền liền đem tới một hòn đá, cứ lần lượt lấy những ngòi lông kia mà chọc vào hòn đá. Tuy nhiên thì không một ngòi nào được nguyên vẹn cả. Mỗi khi bút lông bị tòe ngòi thì ông lại đem vứt đi tồi tiếp tục thử với cây bút lông khác. Biền làm như thế cho đến tận khi trong kho đã vơi bớt số bút lông vốn có, đột nhiên có một cây bút khi ông chọc vào tảng đá, không những không tòe ngòi mà còn thủng luôn tảng đá ấy. Lúc này ông mới reo lên đầy phấn khích:

– Cuối cùng ta cũng tìm ra được ngòi bút thần!

Ngay lập tức Biền đem bút đi vẽ một con rồng ngay trên mặt tường, ông hoàn thành con rồng nhưng chừa lại đôi mắt. Sau khi ông điểm nhãn cho rồng thì nó đột nhiên cựa mình, tách hẳn ra khỏi tường rồi bay vụt lên không trung, biến mất sau những đám mây, mọi người nhìn theo đều trợn mắt kinh ngạc.

Tiếp theo Biền lại vẽ rất nhiều những con vật khác nữa, chúng đều cử động được giống hệt như những đồ thật.

Cuối cùng thì Cao Biền chú tâm vẽ lấy một con diều vô cùng lớn, ông lấy bút thần điểm mực vào phần mắt của con diều. Lập tức con diều vỗ cánh bay, Cao Biền nhảy lên lưng diều và bay vút lên cao.

Biền cứ cưỡi diều mà vượt qua bao núi bao sông sang tận bên nước Nam. Ông ngồi trên cao, đưa mắt nhìn khắp nơi để tìm cho được huyệt đất quý. Không lâu sau quả nhiên ông nhìn thấy gần con sông, bây giờ chính là dòng sông Trà Khúc ngự ở tỉnh Quảng Ngãi, chính là phần huyệt đất có thể phát đế vương. Người giỏi địa lý như Biền chỉ cần nhìn cũng biết rõ huyệt đất này quý như thế nào, và chỉ trong khoảng ngàn ngày là có thể phát được. Đó chính là một hàm của con rồng ẩn nấp dưới nước, cũng chỉ có đôi mắt tinh ranh của Biền mới có thể khám phá ra nó.

Bắt đầu từ lúc đó Biền lại nảy sinh ý nghĩ muốn có được một cuộc sống xa xỉ, sung sướng bậc nhất thế gian. Nhưng sau khi suy đi tính lại thì hắn lại vô cùng tiếc rẻ bởi vì bản thân không có lấy một đứa con trai, hơn nữa thân thể cũng đã già nua rồi, nếu như có làm vua thì cũng chẳng hưởng thụ được bao nhiêu. Vì thế ông liền tính đến cách để cho con rể mình hưởng phúc phận này. Nếu như con rể làm vua tất nhiên người bố vợ như ông cũng sẽ được trọng đãi bội phần, hơn nữa dòng dõi của con gái mình sau này chắc chắn sẽ được hưởng phúc về lâu về dài. Nhưng nếu muốn thực hiện được việc đại sự thì tất nhiên sẽ phải giữ kín toàn bộ bí mật, chứ lộ ra thì mất mạng như chơi vậy.

Nghĩ xong xuôi mọi việc, Biền bay về nhà ở Trung Quốc rồi kêu cậu con rể của mình đào hài cốt của cha y rồi đem hài cốt đó sang bên nước Nam cải táng. Mọi chuyện từ đầu tới đuôi Biền chỉ nói cho một học trò mà ông hết sức tin tưởng. Nhưng tên học trò này lại nổi lòng tham, muốn huyệt đất quý kia thuộc về mình hoàn toàn, bởi vậy khi vâng lệnh Biền đem hài cốt, hắn liền thừa dịp mà đào lấy hài cốt chính cha của hắn đem luôn sang nước Nam.

Lúc bấy giờ là thời kỳ mà hàm rồng đang há miệng. Đến nơi, Biền lập tức sai người học trò của mình đem gói hài cốt kia lặn xuống dưới biển rồi vứt vào ngay giữa miệng rồng, còn phải đợi đến khi nhìn thấy hàm rồng ngậm lại thì mới được lên bờ. Tên học trò ấy đem theo gói hài cốt của cha mình để đánh tráo với gói hài cốt kia, gói hài cốt của cha người con rể của Biền thì bị hắn ném ở bên mép.

Khi mọi việc xong xuôi thì Biền kêu người con rể đi chọn ra năm loại giống lúa khác nhau, mỗi giống lúa lấy đủ một thúng rồi đem tới huyệt đất kia, đào năm cái huyệt ở đúng phần vai rồng. Tiếp theo Biền bảo con rể rấm thúng lúa đã chuẩn bị vào năm cái huyệt, đắp đất lại thành những ngôi mộ. Sau đó Biền lại giao cho người con rể đủ một ngàn cây hương, dặn dò hắn mỗi ngày đem một cây đi thắp, khi đủ hai năm chín tháng và mười ngày, quân lính ở dưới đất sẽ tự dưng nhất tề mà dậy cả. Dặn dò xong xuôi thì Biền cưỡi diều về bên Trung Quốc.

Thời gian cứ thấm thoát trôi qua. Ngày ấy khi còn khoảng mười ngày là hết hạn làm những việc Cao Biền dặn con rể, đột nhiên thì con gái của hắn trở dạ đẻ ra một lúc những ba đứa bé trai, nhưng mặt mũi của đứa nào đứa nấy đều kỳ dị vô cùng. Lúc vừa ra đời, cả ba đứa bé đều biết nói biết đi: có một đứa thì mặt đỏ như máu trên tay cầm theo ấn, đứa khác thì mặt lại có màu thiếc, đứa còn lại mặt mũi xanh lét, mỗi đứa đều cầm theo dao lóe sáng. Bọn chúng lập tức nhảy lên trên giường thờ mà ngồi, còn đòi đem quân để thu phục khắp thiên hạ. Những người trong nhà đều xanh hết mặt mũi khi thấy cảnh này. Và chỉ trong buổi ngày hôm ấy mà mọi chuyện đã bị đồn ầm hết cả lên. Rồi khắp nơi mọi người nghe được sự lạ thì kéo nhau đến xem còn đông hơn trẩy hội. Con rể Biền vô cùng sợ hãi mới nói với vợ rằng:

– Mày lại đẻ ra thứ ma quỷ này, nếu như không sớm ngày trừ đi tất sẽ khó mà sống để ăn nói với người triều đình. Tất cả là do cha mày làm thì mày mới sinh ra những thứ này.

Nói đoạn y cầm đao chém chết cả ba đứa con của mình. Và trong khi bối rối thì người nhà y đem mấy cây hương còn lại ra đốt sạch một lúc. Lúc ấy, mặt đất đột nhiên rung chuyển. Từ dưới những ngôi mộ đất lại phát ra những tiếng rầm rầm vô cùng lớn. Một lát sau thì nắp mộ đều bật tung cả lên, từ dưới nhảy ra không biết bao nhiêu là quân gia tề. Nhưng bởi vì bọn chúng chưa đủ ngày, tất cả đều rất non yếu, đến đứng còn không vững nên đứa nào cũng ngả nghiêng mà đi lại rồi bổ ngửa cả ra, sau cùng thì cũng chẳng còn tên nào sống sót.

Nói đến Cao Biền, ông đợi cho đến ngày hẹn thì mới thong thả cưỡi diều của mình bay sang bên nước Nam. Tuy nhiên vì bị ngược gió nên ông không sang kịp giờ ước định. Đến khi con diều đã hạ cánh thì con rể của ông đã phá hủy hết tất cả việc đại sự mà ông cất công mưu tính. Biền vô vùng bực tức. Sau một hồi căn vặn và biết được mọi sự tình, hắn không nhẫn nhịn được bèn rút gươm ra chém chết tên học trò cũng như con rể của mình.

Kể từ ngày đó thì Biền cũng sinh chán đời, cũng chả thiết tha điều gì nữa. Tính không ăn được thì đạp đổ nổi lên, hắn liền cưỡi con diều của mình bay đi khắp nơi ở nước Nam, hắn iểm huyệt, phá hết long mạch trong nước này. Còn nơi hàm rồng đã nói ở trên thì Biền dùng phép để chém đứt cổ của rồng. Chính bởi vì thế mà cho đến ngày nay người ta mới nhìn thấy nước con sông Trà Khúc đều là một màu đỏ tươi, đó là vì máu của con rồng bị chém đứt cổ chảy ra, cho đến tận ngày nay vẫn chưa dừng.

Khi Biền tới đất Nghệ An thì trông thấy ở trên một hòn núi, bây giờ người ta gọi nó là Đầu Rồng ngay bên cạnh bờ biển cũng có huyệt phát đế vương. Tức mình Biền vẽ luôn một lá bùa làm bằng gang rồi đóng lên phía đỉnh núi, khiến cho đỉnh núi ấy từ đó đến giờ đều không có một cây nào có thể mọc lên được.

Đến Thanh Hóa thì Biền cũng lại nhìn thấy được có huyệt rất quý. Nhưng bởi vì thấy được con rồng này bị què mất một chân nên nghĩ bụng dù cho nó có thể phát được đế vương nhưng cũng không cách nào phát to. Chính vì thế mà Biền chẳng thèm mất thời gian vẽ bùa iểm, đưa diều bay thẳng đi. Cũng vì tích này mà người đời sau đều nói lại rằng các đời vua chúa ở nước Nam này đều là phát tích từ vùng Thanh Hóa mà ra.

Cao Biền ngồi trên diều bay qua bầu trời làng Thiên Mỗ (hiện nay gọi làng Đại Mỗ, thuộc tỉnh Hà Đông), ông thấy ở bên một giếng cạnh bờ sông ngày ấy gọi là sông Nhuệ Giang có một huyệt phát đế vương nữa. Hắn lập tức cho con diều của mình hạ xuống ngay sát mặt đất rồi ném cây bút thần cắm thẳng xuống dưới lòng giếng. Nghe người ta kể lại rằng cây bút mà Biền ném xuống sau này hóa thành khúc gỗ lớn và cắm chặt nơi đáy giếng.

Cũng không một người nào có dũng dám động tới nơi đó. Mãi tận sau này ở làng có một thám hoa, bởi vì hiếu kì nên mới dâng tấu xin vua cho voi kéo khúc gỗ kia lên thử. Bọn họ cho người tết một sợi dây thừng rất lớn rất chắc, đem một đầu buộc chặt vào cây gỗ kia, đầu còn lại buộc vào phần cổ của voi. Tuy nhiên, khi con voi kia vừa cất bước thì những xóm những làng chung quanh đất đai đều chuyển động rầm rầm, nhà cửa cũng theo đó mà phát hỏa loạn một vùng. Và ông thám hoa kia cũng đành bỏ công bỏ việc vì ông cũng lo sợ sẽ làm cho con rồng kia bị đau rồi giãy dụa mà làm hại nhân dân. Có một điều vô cùng đặc biệt là nước ở giếng ấy chưa bao giờ cạn nước. Và mỗi lần người ta múc nước giếng đều có thể trông thấy bóng mờ của khúc gỗ kia.

Vì muốn tâu hoàng đế về công lao của mình mà Cao Biền lập tức vẽ lấy bản đồ tất cả những kiểu đất, cũng viết sách trong đó ghi chú vô cùng tỉ mỉ rồi đem nó dâng cho vua Đường. Nội dung chính là nói cho hoàng đế biết việc những long mạch quý của nước Nam đều bị hắn trấn áp hết rồi. Duy còn một kiểu đất ở trung độ (bây giờ chính là Hà Nội) hắn cũng đã sai người đem đắp ở đó thành Đại La, mục đích để chặn lại long mạch.

Với lễ trấn iểm lần này thì Biền làm vô cùng linh đình và công phu. Ở trên ngọn núi xa xa phía Bắc của thành Đại La, Biền cho người dựng đàn tràng. Ở bên trong thành Đại La thì hắn lại sai người nung tám vạn tháp nhỏ bằng đất cùng một lúc. Sau khi đã nung xong thì hắn huy động đến tám vạn quân, lệnh cho mỗi một tên quân lính trên vai vác theo giáo, phía mũi giáo thì cắm theo một cái tháp đất, tiếp theo cứ đi bắt đầu từ thành Đại La rồi tiến về phía ngọn núi đã chọn. Vừa đi vừa hô vang “Thống vận hoàng đế”. Khi đến nơi ngọn núi đã định thì tất cả đặt tháp đất xuống đỉnh rồi tất cả đám quân lại kéo nhau trở về thành Đại La. Bởi vì những chuyện kỳ quái như vậy xảy ra nên ngọn núi kia được người ta gọi là Bát Vạn.

Hoàng đế của Trung Quốc khi đọc xong sách mà Cao Biền viết thì hết lời khen ngợi hắn. Tuy nhiên thì việc làm này của Biền lại làm cho tất cả dân chúng ở nước Nam vô cùng căm ghét. Vì vậy ai cũng lập tâm đợi chờ dịp tốt để giết Biền cho lòng bõ hờn.

Vào một ngày nọ, Biền leo lên con diều của mình mà bay vào bầu trời tỉnh Ninh Bình bây giờ. Dân chúng nơi đây đều chuẩn bị sẵn sàng những cung những nỏ để chờ đợi hắn, khi thấy con diều của Biền vừa bay tới thì từ dưới mặt đất không biết bao nhiêu là mũi tên đều phóng lên bắn. Diều của Biền bị gãy rồi rơi xuống dưới núi, Biền bị trọng thương, rồi sau đó được đưa trả về Trung Quốc. Còn hòn núi nơi ấy bây giờ được gọi là Cánh Diều, cũng là một trong số ba núi gần nhất với Ninh Bình.

Cha ông ta để lại cho ngày nay câu nói: “Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non”, ý nói là vội vàng nóng nảy thì sẽ thiếu phần chu đáo, kiểu gì thì cũng sẽ thu về thất bại.

loading...