14 - August

Sự tích Dã Tràng

Ngày xửa ngày xưa có một đôi vợ chồng già, người chồng tên là Dã Tràng. Một ngày đang làm cỏ bỗng ông Dã Tràng phát hiện ra trong vườn có một cái hang rắn, trong đó có một cặp vợ chồng rắn hổ mang đang sinh sống.

Một hôm, đang làm cỏ ở vườn, ông Dã Tràng nhìn thấy con rắn hổ mang chồng bò ra khỏi hang một mình, Ông nhìn vào trong hang thì thấy con rắn hổ mang vợ đang nằm cuộn tròn ở trong hang. Vì mới lột da nên con hổ mang vợ sức khỏe còn rất yếu ớt và không thể di chuyển được. Một lúc sau, con hổ mang chồng bò về hang, trong miệng có tha một con ếch và đút cho con hổ mang vợ ăn.

Sự tích Dã Tràng

Một thời gian sau đó, trong lúc đang làm vườn thì Dã Tràng lại thấy con rắn vợ bò ra khỏi hang một mình. Lần này là con hổ mang chồng đến thời khì lột xác nên cũng yếu ớt và phải nằm im thít để chờ con hổ mang vợ kiếm thức ăn về.

Sự tích Dã Tràng

Một lúc sau, con rắn vợ quay trở về hang, nhưng lần này con rắn vợ không mang theo con ếch hay con nhái nào về cho rắn chồng mà lại đi theo một con rắn đực khác khá to lớn. Dã tràng đứng quan sát thì thấy con rắn vợ và con rắn đực to lớn kia bò đến cửa hang thì cuốn lấy nhau như bện dây thừng, giống như chúng đang dùng những cử chỉ của loài rắn để bàn tính với nhau một chuyện gì đó. Sau đó con rắn đực to lớn kia bò vào trong hang.

Dã Tràng đã nhận ngay ra ý định của con rắn đực rằng chắc chắn nó bò vào hang là để giết con rắn chồng đang yếu ớt do vừa mới lột xác. Dã Tràng cảm thấy tức giận vì thấy con rắn vợ đã phản bội rắn chồng đi theo một con rắn đực khác và giờ còn bày mưu tính kế với con rắn đực kia giết chính chồng mình. Trong lúc tức giận, trên tay ông chỉ có mỗi chiếc cung và một mũi tên, ông bèn rút mũi tên nhằm bắn con rắn đực mới đến kia để cứu lấy con rắn chồng đang còn suy yếu.

Không ngờ rằng mũi tên không bay trúng con rắn đực kia mà lại trúng vào đầu con rắn vợ, con rắn vợ lăn ra chết tươi, con rắn đực kia hoảng hốt bỏ chạy mất. Dã Tràng cũng thấy thương con rắn cái và thương cho con rắn chồng đang ở trong hang vì đã mất vợ nhưng trong cái thương cũng có cái giận, giận rằng con rắn cái đã bỏ con rắn chồng mà đi theo con rắn khác trong khi con rắn chồng rất ân cần chăm sóc và thương yêu lúc con rắn vợ trong thời kì lột xác.

Dã Tràng chán nên ông bỏ về nhà, những ngày sau ông không chú ý gì tới cái hang rắn đó nữa. Một vài hôm sau, trong lúc đang nằm trên võng nghỉ ngơi, Dã Tràng kể lại câu chuyện về cái hang rắn mà những gì ông đã tận mắt chứng kiến con rắn vợ phản bội con rắn chồng như nào, vừa kể xong câu chuyện thì trên máng nhà có tiếng phì phì, hai vợ chồng ông hoảng hốt nhìn lên thì thấy một con rắn hổ mang đực rất lớn, đuôi nó quấn vào chiếc xà, đầu vươn tới chỗ ông nằm, từ trong miệng nó nhả ra một viên ngọc màu đỏ gần chỗ ông. Dã Tràng cầm lấy viên ngọc thì bỗng nhiên ông nghe được tiếng rắn nói:

– Thì ra, ông là ân nhân đã cứu mạng tôi mà tôi lại cứ nghĩ ông là kẻ thù. Mấy ngày hôm nay, tôi ẩn nấp trên máng này chỉ chờ cơ hội mổ chết ông để báo thù cho người vợ đã chết. Nhưng từ nãy tới giờ tôi đã nghe ông kể hết câu chuyện và tôi mới biết là tôi đã lầm. Giờ để đền ơn cứu mạng, tôi xin tặng ông viên ngọc quý này, có viên ngọc này trong tay, ông có thể nghe được tất cả tiếng loài vật ở trên thế gian.

Dã Tràng sung sướng nhận viên ngọc quý và từ đó ông luôn mang theo viên ngọc bên mình.

Một hôm, trong lúc đang làm cỏ ở vườn, có một bầy quạ kéo đến rất đông đậu trên cành cây nói chuyện lao xao. Chúng nói với Dã Tràng:

Ở sườn núi phía nam có một con dê bị hổ vồ, ông hãy tới đó xẻ thịt dê mang về nhà mà ăn, nhưng ông nhớ để lại cho chúng tôi bộ lòng

Dã Tràng nghe theo lời quạ lên núi, quả nhiên có một xác con dê mới chết thịt vẫn còn ấm nguyên. Ông xẻ một ít thịt mang về, thấy không thể ăn hết được, ông mách cho dân làng biết mà đi lấy về ăn. Ông có dặn dò kĩ mọi người nhớ để lại bộ lòng cho lũ quạ nhưng mọi người kéo đi đông quá, họ lấy sạch tất cả chẳng để lại thứ gì.

Một lúc sau, lũ quạ bay tới không thấy ruột dê đâu, chúng cho rằng Dã Tràng đã lừa gạt chúng nên kéo tới đậu trên cây la ói om sòm. Lúc đó Dã Tràng mới biết là xóm làng đã vô ý hại tới mình, ông phân trần giả thích cho bầy quạ hiểu nhưng chúng vẫn không nghe, chúng vẫn đứng đó chửi rủa ông suốt.

Tức mình quá, Dã Tràng lấy cung tên ra bắn chúng, ông mục đích chỉ dọa để đuổi chúng đi chứ không có ý bắn hại con nào. Ngờ đâu, lũ quạ thấy vậy tưởng ông lấy oán trả ơn, chúng cắp mũi tên có chữ Dã Tràng ở đuôi đi tìm dịp báo thù. Khi đàn quạ bay ngang qua một con sông, chúng thấy trên sông nổi lềnh phềnh một cái xác chết trôi, đàn quạ bay xuống lấy mũi tên ấy cắm vào yết hầu cái xác. Khi quan tới khám nghiệm tử thi và lập biên bản, thấy mũi tên cắm vào yết hầu, cuối mũi tên lại khắc chữ Dã Tràng, ông ta đoán Dã Tràng chính là thủ phạm giết người nên lập tức hạ lệnh bắt ngay Dã Tràng tống vào ngục.

Dã Tràng bị bắt mà không hiểu vì sao, ông hết sức kêu oan nhưng vì mũi tên là bằng chứng khó chối cãi nên ông đuối lý đành chịu chui đầu vào gông. Dã Tràng vẫn một mực kêu mình bị oan và xin quan áp giải ông về kinh để trực tiếp nhà vua phân xử.

Từ nhà lao tỉnh, ông bị áp dải lên kinh thành. Dọc đường trời tối, bọn lính dừng lại một quán trọ ven đường ăn uống và nghỉ ngơi chờ trời sáng lại đi tiếp. Dã Tràng cổ thị bị gông, chân bị xiềng nên nằm mãi trên đống rơm vẫn không thể chợp mắt. Lúc trời tờ mờ sáng, ông nghe thấy một đàn chim sẻ bay ngang qua đầu, vừa bay chúng vừa trò chuyện:

Nhanh lên anh em! Chuyến này chúng ta tha hồ ăn no mà cũng không sợ ai đánh bẫy cả.

Một con trong đàn hỏi:

– Của ai mà mang tới bỏ vương vãi thế?

Con đầu đàn trả lời:

– Của vua nước phương bắc, họ chuẩn bị mang quân tới đánh úp bên này. Ngày hôm qua, quân lính giáo mác kéo sang đây triền miên không ngớt, nhưng không may xe thóc vừa tới gần biên giới thì sụp hầm nên đổ cả, họ đang trở về lấy xe khác nên chúng ta tha hồ mà đánh chén.

Nghe được tin này, chờ bọn lính gọi dậy lên đường, Dã Tràng bảo:

– Xin các ngài bẩm lại với quan trên rằng, việc oan uổng của tôi chỉ là việc nhỏ mọn, không nên bận tâm, giờ đây việc nước mới là việc trọng đại, và còn rất cấp bách nữa.

Bọn lính gặn hỏi mãi ông vẫn không nói, chỉ bảo rằng vì là chuyện trọng đại nên khi gặp quan lớn tôi sẽ trình bày cụ thể với quan trên.

Khi gặp mấy vị quan đầu tỉnh, Dã Tràng mới kể rằng vua nước phương bắc đã cho quân sang chuẩn bị đánh úp nước ta, hiện quân lính đã kéo rất đông gần biên giới, chỉ vì bị sụp hầm, xe lương mất cả nên vẫn chưa tấn công được. Hiện giờ họ đang cho quân vận chuyển thêm lương, chỉ chờ lương thực đầy đủ sẽ tiến quân vượt biên ải tiến đánh nước ta. Bọn quan tỉnh nghe thấy rất lo lắng, chúng hỏi Dã Tràng có dám chắc chuyện này là thật không. Dã Tràng chỉ lên đầu mình và nói:

– Nếu tôi nói sai, xin các ngài cứ lấy đầu tôi đi. Nhưng nếu đúng thì xin các ngài hãy thương tình mà tha cho tôi khỏi nỗi oan khuất này.

Ngay lập tức, những tên lính do thám được cử đi để theo dõi tình hình quân địch. Quả nhiên ngày hôm sau, Dã Tràng đã được tha bổng vì ông đã lập công lớn cho đất nước, thông báo kịp thời tình hình để nhà vua ra phương án đối phó với quân địch.

Được tha bổng, Dã Tràng đi bộ trở về quê nhà. Bóng chiều ngả xuống, ông mới đến một vùng tên là Hồng Hoa. Nơi đây ông có một người bạn tên Trần Anh nhưng lâu ngày không gặp, ông tìm tới nhà người bạn để nghỉ đêm tiện thể thăm bạn hiền.

Gặp lại người bạn cũ, vợ chồng Trần Anh vui mừng lắm. Được ông kể lại chuyện bị giam cùm và suýt chút nữa thì mất đầu, vợ chồng người bạn rất cảm thương. Thấy bạn lâu mới gặp, trong nhà lại chẳng có gì quý để thiết đãi bạn, Trần Anh xuống bếp bảo vợ:

– Bạn ta đến, đúng lúc nhà mình thì lại không có gì ăn. Sẵn nhà còn cặp ngỗng, con của chúng giờ cũng đã khôn, ta bắt làm thịt một con thiết đãi bạn để ngày mai bạn lại lên đường.

Người vợ đồng ý và dặn chồng sáng sớm bắt ngỗng và cắt tiết vặt lông giúp mình một tay.

Trong khi hai vợ chồng bàn tính thì cặp ngỗng ở chuồng nghe được câu chuyện, ngỗng trống bảo ngỗng mái:

– Mình ơi! Mình hãy ở lại nuôi nấng các con, tôi sẽ đứng sẵn ở cửa chuồng để chủ họ bắt.

Ngỗng mái không chịu, nguyện chết thay cho chồng. Nhưng ngỗng trống nhất định không chịu, nó chạy ra sân vĩnh biệt và dặn dò các con:

– Các con ơi! Các con ở lại nhớ nghe lời mẹ. Ngày mai là cha sẽ không bao giờ được nhìn mặt các con nữa.

Ngỗng mái thương chồng nên vẫn lạch bạch chạy theo quyết chết thay cho chồng bằng được.

Lúc bấy giờ, Dã Tràng nằm trên mệt chiếc chõng tre cạnh cửa sổ nghe được hết tiếng ngỗng cái và ngỗng đực than thở. Ông thấy tội nghiệp cho hai con vật nhỏ, vì mình mà gia đình phải chia lìa. Ông định nói trước với bạn nhưng cảm thấy hơi bất tiện. Ông đành chờ đến sáng mai nghe ngóng chuồng ngỗng chờ lúc người bạn ra bắt thì sẽ ra cản bạn.

Suốt đêm hôm đó, mặc dù đi bộ đường xa rất mệt nhưng ông không dám ngủ. Quả nhiên, khi trời gần sáng, Trần Anh tình dậy bước ra chuồng ngỗng. Ngỗng trống xua ngỗng mái rồi chạy ra phía cửa chuồng đợi sẵn để chủ bắt. Khi Trần Anh sắp cắt tiết con ngỗng thì Dã Tràng chạy vội xuống bếp nắm lấy dao và nói:

– Xin bạn thả nó ra, tính tôi không thích sát sinh. Tình thân của đôi ta dù không có cỗ bàn thì trước sau vẫn như một. Nếu nhà còn tép thì hai ta uống rượu nhâm nhi mấy con tép là cũng đủ vui rồi.

Thấy bạn quả quyết, Trần Anh thả con ngỗng đực vào chuồng rồi bảo vợ chạy ra chợ mua ít tép về đãi bạn.

Cơm nước xong xuôi, Dã Tràng chào từ biệt hai vợ chồng bạn rồi lại lên đường trở về nhà. Đến ao, ông đã thấy hai vợ chồng nhà ngỗng cùng đàn con chờ sẵn ở đấy. Ngỗng đực nhả ra một viên ngọc xanh và nói:

– Đa tạ ân nhân đã cứu mạng, hai vợ chồng chúng tôi không biết lấy gì để đền đáp công ơn, thì thì có viên ngọc quý, gia đình tôi xin được tặng ngài. Có viên ngọc này trong tay, ngài sẽ đi được dưới nước như là đi trên bộ, nếu cầm nó và khoắng xuống nước thì sẽ làm rung động tới tận đáy biển.

Ngỗng lại nói tiếp:

– Họ hàng nhà tép đã thế mạng cho họ nhà ngỗng chúng tôi, kể từ khi nay họ nhà ngỗng chúng tôi sẽ không bao giờ ăn loài tép để tỏ lòng nhớ ơn!

Dã Tràng không ngờ, ông lại được hai vợ chồng nhà ngỗng báo đáp hậu đến thế, ông sung sướng cầm lấy viên ngọc rồi lại lên đường về nhà.

Khi tới bờ sông, để muốn thử hiệu nghiệm của viên ngọc xanh, ông liền đi thẳng xuống dưới nước. Chuyện kì lạ đã sảy ra, nước sông rẽ ra một lối cho ông đi thẳng tới tận đáy sông. Ông dạo cảnh một lúc rồi cầm thử viên ngọc khoắng xuống dưới nước xem thế nào.

Khi khoắng viên ngọc xuống nước, dòng nước tạo thành những cơn sóng ngầm làm chao đảo cả thủy phủ Long Vương. Dưới thủy phủ, Long Vương và tất cả triều thần không biết chuyện gì đang sảy ra, người nào người nấy cũng nháo nhác không hiểu nguyên cớ. Long Vương lập tức cử cho thuộc hạ đi thăm dò tình hình.

Men theo con sóng ngầm, thuộc hạ của Long Vương trở lên mới thấy Dã Tràng đang cầm viên ngọc xanh khoắng xuống nước, mỗi lần khoắng họ cảm thấy tất cả như chao đảo, đầu nhức như búa bổ. Tuy biết chắc chắn Dã tràng là thủ phạm, nhưng họ không dám động gì, chỉ tiến tới nhỏ nhẹ khôn khéo mời Dã Tràng xuống thủy phủ dạo chơi một chuyến.

Gặp Long Vương, Dã Tràng nói mới chỉ khoắng thử viên ngọc xem hiệu nghiệm của nó thế nào. Long vương và các vị triều thần nghe thấy ông nói vậy tất cả đều tái mặt. Long Vương nghĩ, nếu như hắn mà làm thật thì chắc thủy phủ của ta sẽ không còn thứ gì nữa. Vì thế Dã Tràng được Long Vương tiếp đãi rất hậu, tất cả những món ngon vật lạ đều được dâng lên cho Dã Tràng thưởng thức. Ăn uống xong xuôi, Long Vương còn tặng Dã Tràng rất nhiều châu báu và cho quan lính tiễn ông về tới tận nhà để mong nể mặt.

Khi về tới nhà, bà con lối xóm thấy Dã Tràng bỗng nhiên trở nên giàu có nên rất mừng cho hai vợ chồng ông. Kể từ khi đó, Giã Tràng rất quý hai viên ngọc, ông coi chúng như là vật bất ly thân.

Một hôm, Giã Tràng đi bộ nửa ngày đường tới nhà một người bạn để ăn giỗ. Lúc tới nơi, ông mới sực nhớ ra là mình đã để quên hai viên ngọc ở nhà. Ông vội cáo từ mọi người tức tốc chạy về nhà.

Nhưng khi trở về tới nhà, ông tìm mãi vẫn không thấy chiếc túi đựng ngọc đâu. Ông rụng rời chân tay chạy đi tìm người vợ, nhưng tìm mãi kháp nơi ông cũng không thấy vợ đâu. Nóng ruột, ông trở về nhà lục lọi tìm kiếm, cuối cùng ông bắt được một mảnh giấy với vài dòng chữ người vợ viết để lại. Trong giấy vợ ông viết rằng người của Long Vương lên bảo hễ ai lấy được túi ngọc đem xuống tặng Long Vương thì người đó sẽ được làm hoàng hậu. Chính vì vậy, bà ta đã đánh cắp đi túi ngọc và xuống dưới thủy phủ, ông đừng tìm kiếm mà nhọc công.

Dã Tràng không ngờ rằng, âm mưu của Long Vương lại thâm độc tới mức vậy. Nghĩ đến hai viên ngọc quý, ông tức điên ruột. Ông quyết chở cát lấp biển thành một con đường đi xuống dưới thủy phủ để đòi ngọc mang về. Mặc dù, dân làng ra sức can ngăn nhưng Dã Tràng vẫn không nghe vì ông đã quyết là không thay đổi. Ngày hôm sau ông chuyển nhà ra bờ biển, ngày ngày ông xe cát lấp biển, cho tới tận khi chết ông vẫn không từ bỏ công việc đó. Khi chết, ông hóa thành cong còng còng, dân ta hay gọi là con Dã tràng ngày ngày xe cát để lấp biển.

Tục ngữ có câu :

“Dã Tràng xe cát biển Đông.
Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì.”

Hay là :

“Công Dã Tràng hàng ngày xe cát,
Sóng biển dồn tan tác còn chi.”

Hay là :

“Con còng còng dại lắm không khôn,
Luống công xe cát sóng dồn lại tan.”

Người ta vẫn thường nói, loài ngỗng ngày nay không bao giờ ăn tép là vì chúng nhớ tới ơn đã thế mạng cho tổ tiên của mình ngày xưa. Họ còn nói loài ngỗ có một cái mào trắng ở trên đầu, đó chính là chúng để tang cho Dã Tràng để nhớ ơn cứu mạng.

Facebook Comments